LIỆU PHÁP NỘI TIẾT TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ VÚ

liệu pháp nội tiết ung thư vú

Ung thư vú là bệnh ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ trên thế giới; và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu do ung thư ở nữ giới. Tại Việt Nam, theo thống kê năm 2018: có hơn 166.000 trường hợp mới mắc ung thư vú; với tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 29,9/100.000 dân. Điều trị ung thư vú là điều trị đa mô thức; với sự kết hợp của phẫu thuật, hoá chất, xạ trị, nội tiết và các phương pháp điều trị nhắm trúng đích. Trong đó, điều trị nội tiết là liệu pháp điều trị nhẹ nhàng và đem lại hiệu quả tốt đối với bệnh nhân ung thư vú có thụ thể nội tiết dương tính. Cùng tìm hiểu về các thuật ngữ và các chỉ định của liệu pháp nội tiết ở bệnh nhân ung thư vú qua bài viết sau đây.

Các vấn đề cần biết về liệu pháp nội tiết trên bệnh nhân ung thư vú

1. Hormon là gì?

2. Liệu pháp điều trị nội tiết là gì?

3. Các phương pháp điều trị nội tiết ung thư vú?

4. Chỉ định điều trị nội tiết trong ung thư vú?

5. Liệu pháp nội tiết có thể dùng để dự phòng ung thư vú?

6. Tác dụng không mong muốn của thuốc nội tiết?

Chúng ta cùng giải đáp lần lượt các câu hỏi ở trên đây

1. Hormon là gì?

Hormon là chất được tiết ra bởi một hoặc nhiều tế bào trong cơ thể; có chức năng như “người truyền tin” trong cơ thể. Chúng gửi các tín hiệu từ các tế bào, cơ quan này đến các mô, cơ quan khác; thông qua đường máu; để thực hiện các chức năng tại cơ quan tiếp nhận đó.

Estrogen và progesterone là hormon được sản xuất chủ yếu bởi buồng trứng ở các phụ nữ chưa mãn kinh; và bởi một vài mô khác, bao gồm mỡ, da ở phụ nữ đã mãn kinh, hay nam giới. Hai loại hormon này giúp duy trì các đặc tính đặc trưng ở nữ giới; và sự phát triển của xương. Tuy nhiên, nó còn kích thích sự hình thành và phát triển một số loại ung thư vú; hay còn gọi là ung thư vú nhạy cảm với hormon.

2. Liệu pháp điều trị nội tiết là gì?

Điều trị nội tiết trong ung thư vú là sử dụng các thuốc tác động lên thụ thể nội tiết trên bề mặt các tế bào ung thư; ngăn tổng hợp các hormon; giúp làm chậm hoặc ngăn chặn sự phát triển của các khối u vú nhạy cảm với nội tiết.

Điều kiện để được điều trị liệu pháp nội tiết là các tế bào ung thư phải bộc lộ các thụ thể nội tiết trên bề mặt. Các bác sỹ sẽ đánh giá khối u của bạn bằng biện pháp sinh thiết hoặc làm xét nghiệm sau khi khối u bị lấy bỏ bởi phẫu thuật. Các khối u được coi là nhạy với điều trị nội tiết khi trên bề mặt tế bào ung thư có các thụ thể Estrogen (ER dương tính) hay thụ thể progesteron (PR dương tính). Mức độ đáp ứng với thuốc cũng tùy thuộc vào mức độ dương tính nhiều hay ít.

3. Các phương pháp điều trị nội tiết ung thư vú?

Có nhiều biện pháp điều trị nội tiết đối với các ung thư vú nhạy cảm nội tiết như:

Ức chế buồng trứng

Buồng trứng là nơi sản xuất estrogen chủ yếu ở các phụ nữ chưa mãn kinh. Vì vậy, ức chế chức năng buồng trứng giúp làm giảm lượng hormon trong cơ thể; từ đó ngăn chặn sự phát triển của các khối u vú. Có nhiều biện pháp ức chế buồng trứng; như: cắt buồng trứng bằng phẫu thuật, hoặc xạ trị, hay bằng thuốc đồng vận GnRH (gonadotropin-releasing hormone). Các thuốc đồng vận này ngăn chặn tín hiệu từ vùng dưới đồi đến kích thích buồng trứng sản sinh estrogen.

Làm giảm sản xuất estrogen

Các thuốc ức chế aromatase – một enzym giúp tạo ra estrogen từ các mô khác trong cơ thể. Các thuốc này thường được sử dụng với các bệnh nhân đã mãn kinh; vì buồng trứng của các bệnh nhân này không còn sản xuất estrogen; nhưng sản xuất ra một lượng lớn aromatase, do đó làm tăng đáp ứng với thuốc. Tuy nhiên, thuốc ức chế aromatase cũng có thể dùng đối với các phụ nữ tiền mãn kinh; nếu họ được sử dụng các biện pháp ức chế buồng trứng khác kèm theo.

Ngăn tác dụng của estrogen

          + Thuốc điều biến chọn lọc thụ thể estrogen (selective estrogen receptor modulators – nhóm thuốc SERMs): các thuốc này gắn mạnh vào thụ thể estrogen, làm cho Estrogen không gắn vào thụ thể Estrogen được; ngăn tác động của hormon Estrogen lên các tế bào. Ví dụ: tamoxifen (Nolvadex) và toremifene (Fareston).

          + Các thuốc khác: như fulvestrant (Faslodex), làm giảm tác dụng của estrogen theo cơ chế khác.

4. Chỉ định điều trị nội tiết trong ung thư vú

Điều trị nội tiết được chỉ định ở nhiều giai đoạn ung thư vú khi có chỉ định

– Điều trị bổ trợ đối với ung thư vú giai đoạn sớm

  • Sử dụng thuốc nội tiết ít nhất 5 năm đối với các bệnh nhân ung thư vú có thụ thể nội tiết dương tính ở giai đoạn sớm; đã phẫu thuật; giúp giảm thiểu nguy cơ tái phát ung thư vú.
  • Các thuốc nội tiết bao gồm: thuốc nội tiết bậc 1 (tamoxifene, toremifene) đối với bệnh nhân trước hay sau mãn kinh; và thuốc nội tiết bậc 2 (thuốc kháng aromatase) bao gồm anastrozole, letrozole, exemestane đối với các bệnh nhân đã mãn kinh.

– Điều trị ung thư vú giai đoạn tiến triển hoặc di căn

          + Các thuốc nội tiết được chỉ định cho giai đoạn này bao gồm: thuốc nhóm SERMs (tamoxifene, toremifene), thuốc nhóm AIs (anastrozole, letrozole), fulvestrant.

          + Kết hợp thuốc nội tiết và thuốc điều trị đích: gần đây nhiều nghiên cứu đã được thực hiện và chứng minh được vai trò của điều trị kết hợp thuốc nội tiết và các thuốc điều trị đích.

Đối với bệnh nhân có thụ thể nội tiết dương tính, HER2 âm tính; các thuốc ức chế mTOR (như everolimus..v.v.), ức chế CDK 4/6 (như abemaciclib, palbociclib, ribociclib..v.v.) kết hợp với điều trị nội tiết cho kết quả điều trị tốt hơn so với điều trị nội tiết đơn thuần.

Thuốc đích lapatinib (Tykerb), trantuzumab và thuốc nhóm AIs được coi là chỉ định đầu tay với các bệnh nhân ung thư vú đã mãn kinh có thụ thể nội tiết dương tính, thụ thể phát triển biểu mô Her2 dương tính.

– Điều trị tân bổ trợ UTV:

Mục đích của điều trị tân bổ trợ ung thư vú là nhằm giảm kích thước u; tạo điều kiện thuận lợi cho phẫu thuật cắt bỏ tuyến vú triệt căn, hay phẫu thuật bảo tồn vú. Nhiều thử nghiệm lâm sàng đã chứng minh được vai trò của các thuốc AIs trong điều trị bổ trợ trước mổ ở các bệnh nhân ung thư vú đã mãn kinh. Vai trò này chưa rõ ràng đối với các bệnh nhân chưa mãn kinh. Tuy nhiên, chưa có thuốc nội tiết nào được Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (Food and Drug Administration – FDA) chấp thuận trong điều trị tân bổ trợ ung thư vú. Trong tương lai, đây hứa hẹn sẽ là hướng đi mới; cần được nghiên cứu kỹ hơn trước khi đưa vào áp dụng với nhiều ưu điểm so với điều trị hoá chất tân bổ trợ.

5. Liệu pháp nội tiết có thể dự phòng ung thư vú không?

Câu trả lời là ; vì đa số ung thư vú có thụ thể nội tiết dương tính. Các thuốc tamoxifen, raloxifen, exemestane, anastrozole đã được công nhận vai trò làm giảm nguy cơ mắc ung thư vú; trên các phụ nữ có nguy cơ cao như: có tiền sử gia đình có người mắc ung thư vú, tuổi từ 40 đến 60, béo phì, ít vận động, sử dụng thuốc tránh thai.

6. Tác dụng không mong muốn của thuốc nội tiết?

Các tác dụng không mong muốn thường gặp của thuốc nội tiết tùy thuộc vào loại thuốc nội tiết. Hay gặp là bốc hoả, đổ mồ hôi về đêm, khô âm đạo, rối loạn chu kỳ kinh nguyệt đối với các bệnh nhân chưa mãn kinh. Ngoài ra, sử dụng tamoxifen làm tăng nguy cơ tạo các cục máu đông; tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung; hay loãng xương. Khi có chỉ định điều trị các thuốc này, người bệnh nên đến gặp bác sỹ để có hướng dẫn sử dụng thuốc hợp lý.

liệu pháp nội tiết ung thư vú

Thuốc điều trị đích có thể dùng đường truyền hoặc tiêm dưới da

Hiện nay với sự phát triển của y học, điều trị ung thư đa mô thức giúp tăng cao hiệu quả điều trị ung thư, nhất là khi ung thư phát hiện muộn. Biện pháp quan trọng nhất vẫn là áp dụng các biện pháp phòng ngừa, và tầm soát phát hiện sớm ung thư vú; nhất là trên bệnh nhân có nguy cơ cao. Mọi thắc mắc cần tư vấn vui lòng liên hệ với chúng tôi TẠI ĐÂY.

Đọc thêm:
Phòng ngừa Ung thư vú
Các dấu hiệu của ung thư vú

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

0977.133.457